Công nghệ dạy học

Công nghệ dạy học

  • NGUỒN TƯ LIỆU: MICROSOFT TEAMS NGUỒN TƯ LIỆU: MICROSOFT TEAMS12/03/2020 - 9:25””’Là một phần của hệ sinh thái của Office 365, Microsoft Teams là ứng dụng phục vụ công việc của ...
    Được đăng 19:05, 19 thg 3, 2020 bởi Trịnh Xuân Thắng TP
  • 8 nguyên tắc giúp hấp dẫn người học trong bài giảng eLearning Ảnh minh họa. Nguồn: internetGD&TĐ - Giữ cho người học có động lực học tập trong suốt một bài giảng eLearning là một thách thức lớn không chỉ đối ...
    Được đăng 19:20, 30 thg 9, 2017 bởi Trịnh Xuân Thắng TP
  • Quy trình 5 bước thiết kế bài giảng e-learning GD&TĐ - Tại hội thảo“Ứng dụng CNTT tạo bài giảng mầm non sáng tạo”, ThS Trần Nguyên Hương (Trường CĐSP Trung ương) chia sẻ quy trình thiết kế bài ...
    Được đăng 19:19, 30 thg 9, 2017 bởi Trịnh Xuân Thắng TP
  • Kinh nghiệm hay thiết kế bài giảng e-learning Ảnh minh họaGD&TĐ - Dưới đây là những lưu ý ThS. Nguyễn Thanh Thủy (Khoa CNTT, Trường CĐSP Trung ương) giúp giáo viên mầm non có được các giáo ...
    Được đăng 19:18, 30 thg 9, 2017 bởi Trịnh Xuân Thắng TP
  • Cách thiết kế bài giảng điện tử đẹp, hấp dẫn từ PowerPoint GD&TĐ - ThS. Phùng Thị Minh Phương (Khoa CNTT, trường CĐ Sư phạm Trung ương) chia sẻ những gợi ý bổ ích khi thiết kế bài giảng điện tử với ...
    Được đăng 19:17, 30 thg 9, 2017 bởi Trịnh Xuân Thắng TP
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 10. Xem nội dung khác »

NGUỒN TƯ LIỆU: MICROSOFT TEAMS

đăng 19:02, 19 thg 3, 2020 bởi Trịnh Xuân Thắng TP   [ đã cập nhật 19:05, 19 thg 3, 2020 ]

NGUỒN TƯ LIỆU: MICROSOFT TEAMS

12/03/2020 - 9:25

””’Là một phần của hệ sinh thái của Office 365, Microsoft Teams là ứng dụng phục vụ công việc của các nhóm. Teams tích hợp tất cả chức năng chat, họp nhóm, share màn hình, công cụ văn phòng cơ bản và nâng cao trong hệ sinh thái Office 365. Nói một cách khác, Teams là ứng dụng All-in-one với tính năng ưu tiên hiển thị những nội dung nhóm làm việc đang tương tác gần nhất để người sử dụng luôn cập nhật những hoạt động gần nhất của cả nhóm.

 

 

””’Trong giáo dục, bên cạnh việc sử dụng như một công cụ làm việc nhóm, Microsoft Teams được xem là công cụ hỗ trợ giảng dạy trực tuyến hiệu quả với nhiều tính năng vượt trội. Teams đáp ứng được những yêu cầu để tổ chức một lớp học ảo như: trò chuyện (chat và gọi điện), chia sẻ màn hình, ghi lại cuộc gọi, giao và phản hồi bài tập của học sinh, …

””’Với nguồn hỗ trợ tài liệu phong phú, người sử dung có thể dễ dàng học được cách sử dung công cụ này một cách nhanh chóng:

Các giới hạn và thông số kỹ thuật của Microsoft Teams:

Các khóa học dành cho nhà giáo về Teams trên Trang Trung tâm giáo dục Microsoft (Microsoft Educators Center – MEC:

5 khóa dành cho Trainer giảng dạy về Microsoft Teams:

Tổng hợp Tài liệu handout của cả 5 khóa trên có thể download TẠI ĐÂY.

Kênh Youtube Cộng đồng MIE Việt Nam: Các video hướng dẫn nhanh sử dụng Teams:

 

Kích hoạt tài khoản Office 365 trong lần đầu tiên

 

Download và cài đặt Microsoft Teams

 

Tạo lớp học (Team) và kênh (Channel) trong Microsoft Teams

 

Tạo một cuộc họp/buổi học trên Microsoft Teams

 

Chia sẻ liên kết để tham gia một cuộc họp/buổi học trên Microsoft Teams

 Nguồn bài viết: http://msedu.edu.vn/nguon-tu-lieu-microsoft-teams/

8 nguyên tắc giúp hấp dẫn người học trong bài giảng eLearning

đăng 19:20, 30 thg 9, 2017 bởi Trịnh Xuân Thắng TP

Ảnh minh họa. Nguồn: internetẢnh minh họa. Nguồn: internet

GD&TĐ - Giữ cho người học có động lực học tập trong suốt một bài giảng eLearning là một thách thức lớn không chỉ đối với giảng viên mà cả những nhà thiết kế giảng dạy elearing có nhiều kinh nghiệm nhất.

Nhấn mạnh điều này, trong tham luận tại hội thảo "Ứng dụng CNTT tạo bài giảng mầm non sáng tạo" tổ chức mới đây, ông Ngô Văn Đức (Trung tâm Đào tạo E-Learning - Viện đại học mở Hà Nội) cho rằng: Trong môi trường eLearning, trở ngại lớn nhất là có sự giãn cách đối với người học, người thầy sẽ không thể nhận biết được người học có đang chăm chú, theo dõi hay đang buồn chán đối với bài học để có thể điều chỉnh, thay đổi phương pháp học tập phù hợp.

Một thách thức nữa cũng rất cần quan tâm đó là tỷ lệ bỏ học của người học eLearning luôn cao hơn so với người học truyền thống.

Có nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân góp phần làm ảnh hưởng đến tình trạng trên đó là người học thiếu động lực học tập và ngược lại, các sản phẩm học tập nói chung còn thiếu sự thu hút, chú ý và tập trung đối với người học.

Tạo được động lực học tập để duy trì và thúc đẩy người học là việc không hề dễ dàng. Một vấn đề mà giảng viên luôn phải đối mặt là tạo ra các chiến thuật động lực, để có chiến thuật tốt thì cấn có các ý tưởng tốt và sự cần bằng của các ý tưởng đó.

Từ đó, ông Ngô Văn Đức chia sẻ một số nguyên cơ bản nhất để có thể được áp dụng. Những nguyên tắc này được gọi là cơ bản vì nó hoàn toàn phù hợp với các giảng viên và những người thiết kế có ít kinh nghiệm trong môi trường eLearning.

Mục tiêu rõ ràng:

Mục tiêu là kỳ vọng, là mong đợi của người học. Họ cần phải biết một cách cụ thể họ sẽ nhận được gì sau khi học xong bài học. Tính rõ ràng còn thể hiện ở chỗ mỗi mục tiêu sẽ giải quyết 1 phần hoặc 1 nhóm đơn vị kiến thức, thường thì 1 mục tiêu tương ứng với 1 nội dung trong bài hoc.

Đảm bảo nhất quán:

Dạng thức nhất quán cả về cấu trúc bài học và cách thức trình bày. Thể hiện sự liên kết chặt chẽ, logic và đồng nhất của các nội dung trong bài học. Điều này, cho phép người học nhanh chóng hiểu được nội dung nghiên cứu, bài tập, và các yêu cầu khác.

 Một giờ học hấp dẫn
Cấp độ kiến thức phù hợp:

Kỹ thuật rẽ nhánh nội dung nên được cân nhắc và tạo ra nhằm phù hợp với trình độ của đối tượng học tập. Người học dễ nhàm chán khi họ không hoặc chưa đủ kỹ năng để tiếp nhận kiến thức hiện tại, họ có thể chuyển hướng ở cấp độ thấp hơn hoặc ngược lại.

Một hướng dẫn rõ ràng trước các kiến thức với điều kiện tiên quyết cho bài học, môn học và đảm bảo rằng các kỹ năng và tài liệu phù hợp với trình độ kỹ năng cơ bản của người học.

Luôn định hướng:

Bài giảng phải cung cấp hướng dẫn rõ ràng, các tiêu chuẩn cần đạt được và cách thức đánh giá phù hợp với nội dung học tập. Nội dung nên tập trung vào định hướng, giải thích, dẫn nhập những kiến thức then chốt chứ không hoàn toàn là thuyết giảng.

Luôn hỗ trợ:

Bài giảng cung cấp cho người học các mức độ hỗ trợ khác nhau có liên quan, đặc biệt là trong khâu đánh giá. Nên tạo cơ hội cho người học cơ hội nhận thức thông qua việc giải thích các đáp án với nhiều cấp độ khác nhau. Tạo tâm thế gần gũi và thân thiện.

Tương tác:

Thiết kế bài học nên có các hình thức tương tác khác nhau, tạo cơ hội cho người học tự trải nghiệm, tự đánh giá bản thân và thể hiện tính cá nhân hóa trong hoc tập.

Quyền tự chủ:

Cung cấp cho người học một mức độ kiểm soát cá nhân như một cách để họ hoàn thành khóa học. Họ có quyền được lựa chọn nội dung, đơn vị kiến thức mong muốn, phù hợp. Ví dụ, cung cấp cho họ khả năng để lựa chọn thứ tự các chủ đề hay lĩnh vực mà họ muốn nghiên cứu. Đa dạng các kênh thông tin giúp cho người học thành công hơn là chỉ có một cách duy nhất để đạt được mục tiêu hoc tập.

Định hướng hoàn thành:

Làm thế nào để người học kiểm soát được bản thân khi hoàn thành được mục tiêu?. Cần thông báo tiến trình học tập cũng như nhiệm vụ mà người học cần thực hiện để hoàn thành mục tiêu đó. Khuyến khích và động viên để thúc đẩy họ thực hiện một cách tốt nhất và cung cấp sự tự tin đạt được mục tiêu cuối cùng của bài học.

Hải Bình - http://giaoducthoidai.vn/

Quy trình 5 bước thiết kế bài giảng e-learning

đăng 19:19, 30 thg 9, 2017 bởi Trịnh Xuân Thắng TP

Quy trình 5 bước thiết kế bài giảng e-learning

GD&TĐ - Tại hội thảo“Ứng dụng CNTT tạo bài giảng mầm non sáng tạo”, ThS Trần Nguyên Hương (Trường CĐSP Trung ương) chia sẻ quy trình thiết kế bài giảng e-learning, bắt đầu từ xác định mục tiêu bài học, chọn kiến thức, tìm kiếm tư liệu, lựa chọn phần mềm hỗ trợ thiết kế, chạy thử, chỉnh sửa để hoàn thiện.

ThS Trần Nguyên Hương cho rằng, quy trình xây dựng bài giảng trực tuyến gồm 5 bước cơ bản, đó là: Xác định mục tiêu và kiến thức cơ bản của bài học; Xây dựng kho tư liệu phục vụ cho bài học; Xây dựng kịch bản dạy học; Lựa chọn công cụ và số hóa kịch bản; Chạy thử chương trình, sửa chữa và đóng gói bài giảng.

Để thực hiện xây dựng bài giảng cần có sự tham gia của giáo viên và nhóm cán bộ hỗ trợ kỹ thuật (nhóm cán bộ hiểu biết về CNTT và các công cụ thiết kế bài giảng). Tuy nhiên, người giáo viên có kỹ năng CNTT tốt thì có thể đóng vai trò của cán bộ kỹ thuật.

Quy trình xây dựng bài giảng e-learning được ThS Trần Nguyên Hương chia sẻ như sau:

Xác định mục tiêu và kiến thức cơ bản của bài học

Người thực hiện là giáo viên và tổ bộ môn. Lưu ý, bám sát nội dung chương trình; nghiên cứu kỹ giáo trình và tài liệu tham khảo; xác định nội dung trọng tâm.

Trong dạy học hướng tập trung vào học sinh, mục tiêu phải chỉ rõ học xong bài, học sinh đạt được cái gì. Mục tiêu ở đây là mục tiêu học tập, chứ không phải là mục tiêu giảng dạy, tức là chỉ ra sản phẩm mà học sinh có được sau bài học.

Người thực hiện cần đọc kĩ sách giáo khoa, kết hợp với các tài liệu tham khảo để tìm hiểu nội dung của mỗi mục trong bài và cái đích cần đạt tới của mỗi mục. Trên cơ sở đó xác định đích cần đạt tới của cả bài về kiến thức, kĩ năng, thái độ. Đó chính là mục tiêu của bài.

Những nội dung đưa vào chương trình và sách giáo khoa, giáo trình được chọn lọc từ khối lượng tri thức đồ sộ của khoa học bộ môn, được sắp xếp một cách lôgíc, khoa học, đảm bảo tính sư phạm và thực tiễn cao.

Bởi vậy, cần bám sát vào chương trình dạy học và sách giáo khoa và giáo trình bộ môn. Căn cứ vào đó để lựa chọn kiến thức cơ bản là nhằm đảm bảo tính thống nhất của nội dung dạy học.

Mặt khác, các kiến thức trong sách giáo khoa, giáo trình đã được qui định để dạy học. Do đó, chọn kiến thức cơ bản là chọn kiến thức ở trong đó chứ không phải là ở tài liệu nào khác.

Tuy nhiên, để xác định được đúng kiến thức cơ bản mỗi bài, giáo viên cần phải đọc thêm tài liệu, sách báo tham khảo để mở rộng hiểu biết về vấn đề cần giảng dạy và tạo khả năng chọn đúng kiến thức cơ bản.

Việc chọn lọc kiến thức cơ bản của bài dạy học có thể gắn với việc sắp xếp lại cấu trúc của bài để làm nổi bật các mối liên hệ giữa các hợp phần kiến thức của bài, từ đó rõ thêm các trọng tâm, trọng điểm của bài. Việc làm này thực sự cần thiết, tuy nhiên không phải ở bài nào cũng có thể tiến hành được dễ dàng.

Cũng cần chú ý việc cấu trúc lại nội dung bài phải tuân thủ nguyên tắc không làm biến đổi tinh thần cơ bản của bài mà các tác giả sách giáo khoa, giáo trình đã dày công xây dựng.

Xây dựng kho tư liệu phục vụ bài giảng

Người thực hiện là giảng viên và nhóm kỹ thuật. Nguồn tư liệu này thường được lấy từ một phần mềm dạy học nào đó hoặc từ internet,... hoặc được xây dựng mới bằng đồ hoạ, bằng ảnh quét, ảnh chụp, quay video, bằng các phần mềm đồ hoạ chuyên dụng như Macromedia Flash, Photoshop, các phần mềm cắt ghép nhạc, chỉnh sửa video...

Khi tiến hành, cần chọn lựa các phần mềm dạy học có sẵn cần dùng đến trong bài học để đặt liên kết. Xử lý các tư liệu thu được để nâng cao chất lượng về hình ảnh, âm thanh. Khi sử dụng các đoạn phim, hình ảnh, âm thanh cần phải đảm bảo các yêu cầu về mặt nội dung, phương pháp, thẩm mỹ và ý đồ sư phạm.

Sau khi có được đầy đủ tư liệu cần dùng cho bài giảng điện tử, phải tiến hành sắp xếp tổ chức lại thành thư viện tư liệu, tức là tạo được cây thư mục hợp lý. Cây thư mục hợp lý sẽ tạo điều kiện tìm kiếm thông tin nhanh chóng và giữ được các liên kết trong bài giảng đến các tập tin âm thanh, video clip khi sao chép bài giảng từ ổ đĩa nay sang ổ đĩa khác, từ máy này sang máy khác.

Xây dựng kịch bản bài giảng

Người thực hiện là giảng viên và nhóm kỹ thuật. Ở bước này, cần thực hiện chi tiết và cần phải tuân thủ các nguyên tắc sư phạm, nội dung cơ bản, đảm bảo mục tiêu bài học (cả về mặt kiến thức và kỹ năng).

Thực hiện các bước trong các nhiệm vụ dạy học: Xây dựng các bước dạy học, xây dựng sự tương tác người dạy và người học, xây dựng các câu hỏi tương tác, lắp ghép các bước lại thành quá trình dạy học.

Lựa chọn công cụ và số hóa kịch bản

Người thực hiện là giảng viên và nhóm kỹ thuật. Tiêu chí cần căn cứ vào nhu cầu của người sử dụng, căn cứ vào nguồn tài chính, căn cứ vào trình độ của cán bộ kỹ thuật sử dụng công cụ như thế nào.

Các công cụ: có nhiều công cụ, chẳng hạn Adobe Presenter, Lecture Marker, iSpring,…tuy nhiên một phần mềm được nhiều giáo viên sử dụng đó là Adobe Presenter vì nó có khả năng tích hợp với Powerpoint nên nó tạo ra tính thân thiện và gần gũi đối với giảng viên.

Các bước để số hóa kịch bản: Xây dựng được bài giảng bằng MS Powerpoint. Quá trình xây dựng phải đảm bảo các bước trong quá trình dạy học; Ghi âm, thu hình (quay video giảng viên giảng bài); Biên tập video, âm thanh; Sử dụng phần mềm để đồng bộ bài giảng.

Chạy thử chương trình, sửa chữa và đóng gói sản phẩm

Người thực hiện là nhóm kỹ thuật. Công việc gồm: chạy thử chương trình, kiểm soát lỗi và chỉnh sửa bài giảng. Sau đó, đóng gói bài giảng theo định dạng phù hợp với mục đích yêu cầu. Kết thúc bước này ta đã có sản phẩm bài giảng trực tuyến.

Trong mỗi bước của quy trình trên, người thực hiện có thể là giảng viên hoặc nhóm kỹ thuật hoặc cả hai. Cần phải có sự phối hợp đồng bộ giữa giảng viên và nhóm kỹ thuật.

Hải Bình - http://giaoducthoidai.vn

Kinh nghiệm hay thiết kế bài giảng e-learning

đăng 19:18, 30 thg 9, 2017 bởi Trịnh Xuân Thắng TP

Ảnh minh họaẢnh minh họa

GD&TĐ - Dưới đây là những lưu ý ThS. Nguyễn Thanh Thủy (Khoa CNTT, Trường CĐSP Trung ương) giúp giáo viên mầm non có được các giáo án điện tử e-learning phát huy tối đa tác dụng trong dạy học.

Chia sẻ này được ThS. Nguyễn Thanh Thủy trình bày trong tham luận tại hội thảo “Ứng dụng CNTT tạo bài giảng mầm non sáng tạo” được tổ chức mới đây.

Một số quy tắc giáo viên cần nắm

Soạn một bài giảng E learning cũng đòi hỏi những quy tắc nhất định nhằm tạo nên hiệu quả khi soạn bài giảng điện tử.

Giáo viên phải hiểu sâu và nắm chắc nội dung bài giảng, trên cơ sở đó mới có thể thể hiện kiến thức với sự phối hợp mô hình hóa cao bằng các bảng biểu, sơ đồ, hình ảnh, phim video... một cách khoa học.

Thiết kế giáo án E-learning thường được thiết kế diễn đạt nội dung bài học đầy đủ nhất và học sinh dễ hiểu, dễ tiếp thu và thấy hưng phấn, thích thú trong quá trình học.

Những nội dung ấy thường được thiết kế dưới sự phối hợp chặt chẽ giữa kênh chữ, kênh nói, hình ảnh bảng biểu, sơ đồ, hình ảnh, phim video... nên đòi hỏi người giáo viên phải làm chủ kiến thức chuyên môn, CNTT của mình mới có thể cụ thể hóa một cách cô đọng, khoa học bằng các bảng biểu, sơ đồ kết hợp các hiệu ứng màu sắc, âm thanh làm cho bài giảng bớt trừu tượng và giúp trẻ dễ hiểu bài hơn và thấy hứng thú hơn trong quá trình học.

Đối với các hình ảnh, phim video cũng đòi hỏi giáo viên nắm vững kiến thức chuyên môn mới có thể chọn lựa hình ảnh và các đoạn phim "đắt giá" đồng thời biết lồng và đưa chúng vào nội dung bài giảng ở phần nào nhằm phát huy hiệu quả cao nhất quá trình học của trẻ.

Nếu giáo viên có khả năng làm chủ chuyên môn bằng kiến thức của mình thì trẻ sẽ vừa được nghe, được nhìn và được suy nghĩ theo logic trong quá trình học, điều này sẽ làm cho trẻ tiếp thu nội dung bài học rất hiệu quả.

Lập dàn ý trình bày và liên kết hợp lý các Slide nội dung bài giảng

Trong lúc hình thành dàn ý bài soạn dưới dạng các Slide cần chú ý mối liên hệ hữu cơ về nội dung giữa các Slide, phối hợp có hiệu quả giữ các kênh thông tin. Nếu không, giáo án có thể trở thành một tập các Slite chữ và Slite hình ảnh hơn là một bài soạn.

Ta nên phân đoạn, phân phần kiến thức thích hợp, sau mỗi phần, đoạn nên có câu hỏi tương tác để khắc sâu từng phần cũng như kiểm tra khả năng hiểu bài của trẻ; cuối bài nên có một vài câu hỏi tương tác có nội dung xuyên suốt bài giảng để trẻ hình dung nôi dung bài một cách tổng thể.

Tránh tình trạng cuối bài mới kiểm tra kiến thức, như vậy trẻ sẽ phải trả lời nhiều câu hỏi một lúc dẫn đến nhàm chán và không nhớ hết nội dung.

Các câu hỏi tương tác nên đa dạng và phù hợp với từng nội dung. Đối với cấp Mầm non, giáo viên chủ yếu dùng kênh hình, kênh thuyết trình và màu sắc để giúp trẻ hiểu bài (có thể phối hợp giữ kênh chữ và hình ảnh trong những câu hỏi tương tác thêm phần sinh động), hạn chế dùng kênh chữ và trong mỗi dạng câu hỏi giáo viên cần hướng dẫn kỹ cách thức làm bài.

Một phần chú ý nữa đối với học sinh mầm non là vì các cháu mới tiếp xúc với máy tính nên ở phần trả lời nên cho các cháu lựa chọn nhiều lần trả lời hơn giúp các cháu dược nhiều lần tương tác với máy tính.

Lựa chọn phông chữ, cỡ chữ, màu chữ, màu nền, hiệu ứng phông chữ

Chọn hình nền dễ quan sát, phù hợp với nội dung bài học, tránh quá lòe loẹt, nhiều hiệu ứng gây mất tập trung và rối mắt đối với trẻ. Chọn cỡ chữ phù hợp, không nên quá to hoặc quá nhỏ.

Slide chỉ nên bao gồm từ 8 đến 10 dòng (Font size khoảng 26-44). Cần chọn màu chữ (Font color) phù hợp với màu nền (Fill color) của các Slide, có độ tương phản cao tạo điều kiện thuận lợi cho sự theo dõi của trẻ.

Ngoài ra, khi chọn hiệu ứng cho phông chữ, giáo viên không nên dùng quá nhiều hiệu ứng làm cho trẻ chỉ chú ý đến các hiệu ứng mà không chú ý đến nội dung bài học, dẫn đến không nắm được trọng tâm của bài và không nên chèn ảnh động chỉ mang tính trang trí trong bản giảng.

Sử dụng hợp lý hình ảnh, âm thanh, các đoạn video, lập sơ đồ, bảng biểu

Có thể thấy, các trang bài giảng chỉ thực sự phát huy được ưu thế của nó so với bảng phấn khi khai thác được các yếu tố đặc thù như hình ảnh, video hoặc các sơ đồ, bảng biểu gắn với nội dung bài giảng.

Các tư liệu này hiện nay chúng ta có thể dễ dàng tìm kiếm trên Internet, các đĩa CD, DVD, sao chụp từ sách, báo hoặc qua quay video đóng phim tình huống...

Tuy nhiên, một điều lưu ý là hình ảnh và âm thanh đưa vào bài giảng phải giải thích, diễn giải, mô tả... nội dung của bài học, phải phù hợp với mục tiêu học tập mà người học cần đạt, hướng đến trọng tâm kiến thức của bài. Việc lạm dụng hoặc thiếu chọn lọc hình ảnh, âm thanh trong khi biên soạn sẽ gây nhiễu cho quá trình lĩnh hội kiến thức của trẻ.

Ngoài ra, những tranh, ảnh hay đoạn phim minh họa dù hay nhưng mờ nhạt, không rõ ràng thì cũng không nên sử dụng vì không có tác dụng cung cấp thông tin chính xác như ta mong muốn.

CNTT cũng là phương tiện phát triển trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mỹ, phát triển thể chất và có sự tác động mạnh đến sự tự tin của trẻ khi bước vào những lớp học tiếp theo.

Qua đó ta thấy được sự cần thiết của việc cho trẻ tiếp cận với công nghệ và xây dựng bài giảng E learning vào trong giảng dạy, lựa chọn hình thức cho trẻ làm quen với công nghệ thông tin là yếu tố tạo tiền đề cho sự thành công sau này.

Tuy nhiên, không phải bất kỳ một đề tài nào cũng có thể ứng dụng bài giảng E learning vào trong giảng dạy. Tùy theo mục tiêu đề ra phát triển cho trẻ mà ta có thể lựa chọn những phương tiện chuyển tải đến trẻ cho phù hợp.

Cách thiết kế bài giảng điện tử đẹp, hấp dẫn từ PowerPoint

đăng 19:17, 30 thg 9, 2017 bởi Trịnh Xuân Thắng TP

Cách thiết kế bài giảng điện tử đẹp, hấp dẫn từ PowerPoint

GD&TĐ - ThS. Phùng Thị Minh Phương (Khoa CNTT, trường CĐ Sư phạm Trung ương) chia sẻ những gợi ý bổ ích khi thiết kế bài giảng điện tử với phần mềm PowerPoint. Chia sẻ này được trình bày trong tham luận tại hội thảo “Ứng dụng CNTT tạo bài giảng mầm non sáng tạo” tổ chức mới đây.

PowerPoint là phần mềm rất mạnh về tương tác, hình ảnh, âm thanh, video và animation. Vì vậy, giáo viên cần khai thác những khía cạnh này để thiết kế bài giảng điện tử. Những lưu ý dưới đây của ThS. Phùng Thị Minh Phương chỉ đề cập tới một vài vấn đề quan trọng trong PowerPoint để hỗ trợ cho bài giảng của giáo viên mầm non; phần mềm PowerPoint sẽ sử dụng là phiên bản 2010.

Tính năng tương tác trong PowerPoint

PowerPoint có nhiều tính năng mạnh giúp một bài giảng bình thường trở thành một bài giảng tương tác hấp dẫn, ấn tượng bằng cách sử dụng tính năng trigger để thiết lập điều kiện tương tác cho bài thuyết trình; tạo các HyperLink - liên kết trong phạm vi các slide với nhau, đưa vào các đường liên kết để mở một phần mềm khác (như một file văn bản, một file Excel, một đoạn video clip trên Youtube hoặc có sẵn trên máy tính),…

+ Sử dụng Trigger với các bước thực hiện:

Bước 1: Gán hiệu ứng cho đối tượng.

Bước 2: Chọn đối tượng gán Trigger/ Trong nhóm chức năng Advanced Animation/ Chọn vào mũi tên trên Trigger.

Bước 3: Chọn On click of/ Chọn tới đối tượng gán trigger.

Bước 4. Trình chiếu thử để kiểm tra kết quả: di chuột lên đối tượng gán trigger sẽ có hình bàn tay để bấm.

Gợi ý: Giáo viên mầm non nguồn tài nguyên phong phú từ search Google dưới đây:

Vào Google và gõ vào dòng chữ: “cách thiết lập trigger trong PowerPoint” để xem kĩ hơn về kĩ thuật sử dụng trigger.

Vào Google và gõ vào dòng chữ: “Hướng dẫn trò chơi trên PowerPoint” (Ví dụ: Hướng dẫn trò chơi ô chữ trên PowerPoint), có rất nhiều trò chơi hiển thị.

+ Sử dụng Hyperlink để liên kết tới slide khác trong bài thuyết trình, ví dụ: Trong bài thuyết trình PowerPoint có 8 slide. Slide 2 và Slide 7 có mối liên quan tới nhau, thông thường để đến Slide 2 phải lần lượt di chuyển qua slide 3, 4, 5, 6 rồi mới tới Slide 7. Như vậy, sẽ mất thời gian và làm mất tập trung theo dõi bài giảng. Nhờ liên kết Hyperlink (siêu liên kết) chỉ cần tạo một biểu tượng bất kì trên slide 2, nhấp chuột vào biểu tượng này lập tức nội dung nhảy đến Slide 7.

Cách làm như sau:

Bước 1: Vào Shapes chèn vào slide một đối tượng bất kì: Insert/ Shapes/ chọn một nút cần chèn.

Bước 2: Nhấp phải chuột vào hình vừa chọn trong bước 1/ menu dọc xuất hiện, chọn HyperLink/Trong mục Look to, chọn Place in this Document/ Chọn đến slide cần liên kết trong mục Select a place in this document.

Bước 3: Nhấp vào OK để hoàn thành liên kết.

Liên kết slide để mở một file dữ liệu đã có sẵn trên máy tính hoặc một trang web: Các bước làm tương tự như ví dụ 1. Chỉ khác thay bước chọn trong mục Look to: thay “Place in this document” thành “Existing file or Web Page”. Tạo liên kết từ các nút bấm: Vào thẻ Insert/ trong nhóm IIIustrations/ Chọn Shapes/ Chọn đến Action button. Hộp thoại Action settings xuất hiện:

Màu sắc trong trình chiếu PowerPoint

+ Dùng các Template (khuôn mẫu) có sẵn trong PowerPoint để tạo hình nền.

Thực hiện: Vào Design /Trong chức năng Themes/ Xem và chọn các templates có sẵn. Để có thể cập nhật nhiều mẫu Templates hơn sử dụng kết nối mạng để lấy ra các Themes: Vào Design/ Mở rộng vào mũi tên chức năng Themes/ Nhấp chọn đường link “More themes on microsoft office online…”. Đường link này: https://templates.office.com/ sẽ mở ra một trang web có sẵn các template đã thiết kế và cho download về miễn phí.

Lời khuyên: Tốt nhất là hãy tự thiết kế các khuôn mẫu của riêng cá nhân sẽ sáng tạo và phù hợp với nội dung cần thể hiện. Nên tránh sử dụng các gam màu “Hight Energy” làm màu nền.

+ Màu chữ trong PowerPoint:

Màu chữ phụ thuộc vào màu nền, màu chữ và màu nền sẽ quyết định việc trình chiếu slide bắt mắt hay phản cảm. Ví dụ như, không nên chọn các gam màu chữ có màu tương đồng với màu nền, mà nên chọn màu chữ đối trọi với màu nền sẽ làm nổi bật hơn.

Chú ý: Không gian rộng, nên chọn màu chữ sáng (màu vàng, trắng, màu cam,…) trên nền tối (các gam màu xanh, xanh đậm, ). Nếu không gian nhỏ và vừa phải, nên chọn chữ màu chữ đậm (xanh đậm hay đen) trên nền sáng (màu sáng như trắng, màu cam nhạt,…).

+ Biểu diễn chữ trong trình chiếu PowerPoint:

Kiểu chữ trong Slide: Trong trình chiếu PowerPoint khuyến khích dùng kiểu chữ không chân. Ví dụ như: Arial, Verdata, Calibri, Tahoma,…Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sử dụng kiểu chữ không chân trong PowerPoint sẽ giúp tốc độ đọc tăng lên. Rất nhiều trang web uy tín của google, yahoo dùng chữ không chân đề trang trí trang web của họ.

Kích thước chữ: Điều này chỉ khuyên cho những kiểu chữ không chân. “Add title” có font size từ: 40 đến 50 và “Add subtitle có font size từ 28 đến 40.

Lượng chữ trong một Slide:Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, một người bình thường chỉ có thể tiếp thu được nội dung của một Slide trong 20 – 30 giây đầu tiên, họ sẽ bỏ qua các nội dung còn lại. Nên sử dụng các từ khóa và lượng chữ khuyên nên dùng 7 từ/ 1 dòng, tối đa 7 dòng / 1 Slide là phù hợp, tốt nhất là 3 đến 5 dòng.

Chức năng của Animation

Animation là một công cụ hay được dùng nhất trong PowerPoint, để tạo ra các mô phỏng phục vụ bài giảng theo ý đồ truyền đạt kiến thức. Giáo viên có thể thiết kế trò chơi dựa vào sự ẩn hiện của đối tượng hay chuyển động vào ra hay tạo các câu hỏi trắc nghiệm đơn giản.

Chức năng của Animation: điều khiển thứ tự xuất hiện các đối tượng trên Slide. Mỗi lần xuất hiện có thể chọn các hiệu ứng xuất hiện khác nhau. Có các loại hiệu ứng cơ bản sau:

Hiệu ứng VÀO (Entrance, xuất hiện).

Hiệu ứng THỂ HIỆN (Emphasis, nhấn mạnh).

Hiệu ứng RA (Exit, mất đi).

Hiệu ứng Motion Paths (Tạo ra các đường dẫn chuyển động cho đối tượng).

Một đối tượng khi đã có hiệu ứng rồi có thể thêm nhiều hiệu ứng khác nữa cho một đối tượng. Bằng cách chọn “Add Animation” trong chức năng Advance Animation.

Tuy nhiên lời khuyên cho giáo viên mầm non là không nên sử dụng nhiều hiệu ứng trong một đối tượng văn bản. Còn nếu nó mang tính chất trò chơi hay mục đích của người sử dụng có thể đề nhiều hiệu ứng tùy chọn.

ThS. Phùng Thị Minh Phương - http://giaoducthoidai.vn

Tăng cường ứng dụng CNTT trong giáo dục năm học 2017-2018

đăng 02:19, 30 thg 9, 2017 bởi Trịnh Xuân Thắng TP

Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành văn bản số 4116/BGDĐT, ngày 08/9/2017 về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ công nghệ thông tin (CNTT) năm học 2017-2018 đối với các Sở Giáo dục và Đào tạo (GDĐT).

Qua đó, trong năm học 2017-2018, các Sở GD-ĐT cần tập trung chỉ đạo triển khai:

3 nhóm nhiệm vụ trọng tâm:

1. Triển khai có hiệu quả Đề án tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025 (được phê duyệt theo Quyết định số 117/QĐ-TTg ngày 25/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ).

2. Tập trung xây dựng hệ thống thông tin kết nối liên thông giữa Bộ với các Sở, Phòng giáo dục và đào tạo, các cơ sở giáo dục; xây dựng và đưa vào sử dụng thống nhất toàn ngành các cơ sở dữ liệu về giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông; triển khai hệ thống phần mềm quản lý trong các trường học; triển khai hệ thống hội nghị truyền hình, tập huấn qua mạng phục vụ toàn ngành; tăng cường áp dụng phương thức tuyển sinh đầu cấp học qua mạng, cung cấp dịch vụ công trực tuyến.

3. Tăng cường sử dụng sổ điện tử trong nhà trường; tập trung xây dựng và  khai thác sử dụng có hiệu quả kho bài giảng e-learning, kho học liệu số của ngành phục vụ nhu cầu tự học của người học và đổi mới, sáng tạo trong hoạt động dạy, học; Xây dựng mô hình ứng dụng CNTT trong công tác điều hành quản lý, dạy và học từ Sở GDĐT đến các Phòng Giáo dục và đào tạo, các cơ sở giáo dục, ứng dụng giải pháp trường học điện tử, lớp học điện tử (giải pháp giáo dục thông minh) ở những nơi có điều kiện nhằm nâng cao chất lượng dạy học.

Một số nhiệm vụ cụ thể:

1. Ứng dụng CNTT trong các hoạt động điều hành và quản lý giáo dục

  1. Triển khai dự án xây dựng cơ sở dữ liệu toàn ngành về giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông của Bộ GDĐT đáp ứng nhu cầu thông tin quản lý giáo dục một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời cho các cấp từ trường học, Phòng, Sở và Bộ GDĐT.
  2. Triển khai phần mềm quản lý hành chính điện tử (e-office) - kết nối các Sở GDĐT với Bộ GDĐT phục vụ trao đổi thông tin, văn bản chỉ đạo, quản lý điều hành trên môi trường mạng.
  3. Ngoài việc tiếp tục sử dụng có hiệu quả hệ thống họp qua mạng (công nghệ web conferencing) tại địa chỉ http://hop.moet.edu.vn, Bộ GDĐT sẽ triển khai hệ thống hội nghị trực tuyến (công nghệ video conferencing) kết nối giữa Bộ với các Sở GDĐT và các cơ sở đào tạo đại học.
  4. Triển khai đồng bộ phần mềm quản lý trường học từ mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên. Yêu cầu: triển khai tối thiểu các mô đun quản lý học sinh, đội ngũ, xếp thời khóa biểu; sử dụng công nghệ trực tuyến; đảm bảo kết nối liên thông dữ liệu từ trường đến phòng, sở; tăng cường sử dụng sổ điện tử trong quản lý và lưu trữ.
  5. Tiếp tục triển khai có hiệu quả các hệ thống thông tin dùng chung toàn ngành của Bộ GDĐT, cụ thể là:

- Hệ thống thông tin quản lý phổ cập giáo dục và chống mù chữ, tại địa chỉ: http://pcgd.moet.gov.vn.

- Phần mềm thống kê số liệu quản lý giáo dục (EMIS) tại địa chỉ: http://thongke.moet.gov.vn.

- Phần mềm thống kê chất lượng giáo dục tiểu học (EQMS).

  1. Triển khai các dịch vụ công trực tuyến, đặc biệt các dịch vụ công phục vụ phụ huynh, học sinh, một số dịch vụ cụ thể:
  • Dịch vụ xét tuyển học sinh đầu cấp (cung cấp đầy đủ các loại mẫu đơn, nộp hồ sơ trực tuyến, công khai danh sách đăng ký, công khai kết quả xét tuyển và trả kết quả qua mạng).
  • Cung cấp miễn phí thông báo điểm học tập và rèn luyện qua tin nhắn OTT, email và website trường học (hạn chế sử dụng hệ thống nhắn tin thu phí qua điện thoại di động).
  1. Các Sở GDĐT căn cứ theo chức năng nhiệm vụ và thẩm quyền cần tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát các cơ sở đào tạo, trung tâm sát hạch trong việc thực hiện tổ chức thi, cấp chứng chỉ ứng dụng CNTT trên địa bàn theo Thông tư liên tịch số 17/2016/TTLT-BGDĐT-BTTTT ngày 21/6/2016.
  2. Phổ biến đến cán bộ, giáo viên, học sinh và nhà trường khai thác hiệu quả các hệ thống thông tin của Bộ gồm:
  • Cổng thông tin điện tử của Bộ GDĐT tại địa chỉ http://moet.gov.vn.
  • Cổng thông tin thi và tuyển sinh của Bộ GDĐT tại địa chỉ http://thituyensinh.vn.


Kỳ thi THPT quốc gia năm 2017 được ứng dụng CNTT thành công,
hầu hết các thủ tục hành chính giữ thí sinh – trường phổ thông – trường đại học và Bộ GDĐT được thực hiện qua mạng Internet

  2. Ứng dụng CNTT đổi mới nội dung, phương pháp dạy, học và kiểm tra đánh giá

a) Phổ biến, hướng dẫn giáo viên, học sinh và các nhà trường khai thác kho bài giảng e-Learning của Bộ GDĐT tại địa chỉ http://elearning.moet.edu.vn nhằm đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học. Kho bài giảng e-Learning tập hợp các bài giảng có tính tương tác cao, hỗ trợ học sinh tự học, tự ôn tập nâng cao kiến thức, giúp giáo viên tham khảo đổi mới nội dung phương pháp dạy học; tiếp tục khuyến khích giáo viên tham gia xây dựng bài giảng e-learning để đóng góp vào các kho bài giảng của trường, phòng, sở và Bộ GDĐT.

b) Ứng dụng CNTT đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng giáo viên chủ động tích hợp CNTT vào từng môn học để nâng cao hiệu quả bài giảng, sử dụng phần mềm trình chiếu, kết hợp các phần mềm mô phỏng, thí nghiệm ảo và phần mềm dạy học. Hạn chế lạm dụng CNTT trong dạy học hoặc ứng dụng một cách miễn cưỡng.

c) Tăng cường sử dụng trang “Trường học kết nối” của Bộ GDĐT phục vụ trao đổi chuyên môn, đổi mới nội dung, phương pháp dạy học trong nhà trường.

d) Triển khai giải pháp trường học điện tử, lớp học điện tử (các giải pháp giáo dục thông minh) ở những nơi có điều kiện nhằm ứng dụng những công nghệ tiên tiến, đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy - học. Cần có lộ trình triển khai phù hợp, tổ chức thí điểm để đánh giá, điều chỉnh và hoàn thiện mô hình sao cho phát huy tối đa hiệu quả đầu tư, làm cơ sở để triển khai nhân rộng.

3. Triển khai hạ tầng và thiết bị CNTT

a) Hoàn thành nối cáp quang Internet trường học. Khuyến khích nhà trường sử dụng Internet đồng thời của nhiều nhà mạng khác nhau để mở rộng băng thông và ổn định chất lượng kết nốt Internet.

b) Trang bị đủ thiết bị CNTT phục vụ công tác quản lý, điều hành: mỗi trường trang bị ít nhất 02 bộ máy tính, 01 máy in và 01 webcam. Mỗi tổ bộ môn trong trường có máy tính dùng chung.

c) Trang bị thiết bị CNTT thiết yếu phục vụ đổi mới phương pháp dạy - học trên lớp học; trang bị đủ máy tính phục vụ dạy – học môn Tin học (tiểu học đạt tỷ lệ 24 học sinh/1 máy tính, trung học cơ sở đạt tỷ lệ 16 học sinh/1 máy tính và trung học phổ thông đạt tỷ lệ 12 học sinh/1 máy tính). Các phòng máy tính phục vụ dạy học phải được nối mạng Internet.

d) Triển khai các biện pháp đảm bảo an toàn an ninh thông tin đối với các hệ thống CNTT (phần cứng, phần mềm, wesbite...). Thường xuyên rà soát, khắc phục các nguy cơ mất an toàn, an ninh thông tin. Đẩy mạnh tuyên truyền tới toàn thể cán bộ, giáo viên và học sinh kỹ năng nhận biết, phòng tránh các nguy cơ mất an toàn thông tin đối với các thiết bị cá nhân như điện thoại thông minh, máy tính, máy tính bảng, máy tính cá nhân.

4. Bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng CNTT cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục

a) Nội dung bồi dưỡng phải bám sát với nhu cầu thực tiễn về ứng dụng CNTT của giáo viên và cán bộ quản lý. Xem xét, nghiên cứu một số nội dung sau đây để đưa vào các lớp tập huấn một cách phù hợp với thực tiễn của địa phương:

- Nâng cao năng lực ứng dụng CNTT đáp ứng chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT quy định tại Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT ngày 11/3/2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông; Kỹ năng đảm bảo an toàn, an ninh thông tin; Kỹ năng khai thác sử dụng có hiệu quả các phần mềm quản lý trong nhà trường.

- Kỹ năng sử dụng phần mềm trình chiếu, phần mềm hỗ trợ soạn bài giảng tương tác, phần mềm mô phỏng, thí nghiệm ảo, phần mềm dạy học để đổi mới nội dung, phương pháp dạy học trên lớp học.

- Kỹ năng xây dựng bài giảng e-Learning, xây dựng sách giáo khoa điện tử; khai thác các nguồn học liệu, kỹ năng tìm kiếm thông tin trên Internet…

- Kỹ năng cài đặt hệ điều hành và các phần mềm ứng dụng cơ bản; kỹ năng sửa chữa, khắc phục những hỏng hóc đơn giản của máy tính và thiết bị CNTT; kỹ năng quản lý, khai thác, sử dụng thiết bị CNTT phục vụ dạy học.

- Tham khảo chuẩn quốc tế vào thí điểm bồi dưỡng giáo viên về kỹ năng CNTT ở những trường học có điều kiện và yêu cầu cao về nhân lực ứng dụng CNTT.

b) Tăng cường triển khai tập huấn giáo viên và cán bộ quản lý qua mạng: Bộ GDĐT cung cấp Cổng bồi dưỡng trực tuyến tại địa chỉ http://taphuan.moet.edu.vn; hệ thống phòng họp trực tuyến http://hop.moet.edu.vn; tận dụng có hiệu quả hệ thống họp trực tuyến đã được trang bị ở địa phương và ở các nhà trường.

5. Khai thác, sử dụng phần mềm tự do nguồn mở

a) Tiếp tục triển khai Thông tư số 08/2010/TT-BGDĐT ngày 01/03/2010 của Bộ GDĐT quy định về sử dụng phần mềm tự do nguồn mở trong các cơ sở giáo dục.

b) Tăng cường sử dụng phần mềm tự do nguồn mở vào dạy môn Tin học tại các nhà trường.

c) Nghiên cứu áp dụng hệ thống phần mềm mã nguồn mở Nukeviet trong việc xây dựng và triển khai website giáo dục.


Kho bài giảng e-Learning của Bộ, hiện có 5,000 bài giảng có chất lượng, khả năng tương tác cao, giúp học sinh tự học, tự ôn tập kiến thức

4 nhóm giải pháp để thực hiện

1. Kiện toàn tổ chức bộ phận phụ trách CNTT:

a) Đối với sở GDĐT: Phân công Lãnh đạo Sở phụ trách, lãnh đạo cấp phòng và chuyên viên làm đầu mối theo dõi triển khai nhiệm vụ CNTT. Đối với những sở GDĐT không thành lập phòng CNTT, ghép nhiệm vụ CNTT vào một phòng chuyên môn phù hợp, tuy nhiên phải đảm bảo thực hiện đầy đủ nhiệm vụ CNTT được giao.

b) Đối với phòng GDĐT: phân công Lãnh đạo phòng phụ trách và chuyên viên làm đầu mối theo dõi, triển khai nhiệm vụ CNTT.

c) Đối với mỗi nhà trường: phân công một đồng chí trong ban giám hiệu và cán bộ của trường đảm nhận vị trí việc làm CNTT (vị trí việc làm theo Thông tư số 16/2017/TT-BGDĐT) làm đầu mối theo dõi, phụ trách.

2. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền thông qua các hội nghị, hội thảo, cuộc thi để nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý và giáo viên về vai trò của ứng dụng CNTT trong các hoạt động GDĐT (một trong 9 nhiệm vụ trọng tâm của ngành GDĐT).

3. Tăng cường công tác thể chế: các cơ quan, nhà trường cần ban hành quy chế quản lý, duy trì và khai thác sử dụng các hệ thống CNTT, phân công cụ thể trách nhiệm về quản lý, sử dụng hệ thống; triển khai ứng dụng CNTT phải đi đôi với việc đảm bảo an toàn, an ninh thông tin; có các hình thức khen thưởng các đơn vị, cá nhân làm tốt; có các biện pháp, chế tài đối với các đơn vị chưa hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ đề ra.

4. Tăng cường huy động nguồn lực xã hội hóa; phối hợp có hiệu quả việc đầu tư với thuê dịch vụ CNTT (quy định tại Quyết định số 80/2014/QĐ-TTg ngày 30/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ).

Tăng cường ứng dụng CNTT góp phần nâng cao chất lượng GD&ĐT

đăng 02:17, 30 thg 9, 2017 bởi Trịnh Xuân Thắng TP

GD&TĐ - Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng GD&ĐT giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025”.

Trong cuộc phỏng vấn của phóng viên báo Giáo dục và Thời đại, ông Nguyễn Sơn Hải - Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin (Bộ GD&ĐT) đã phân tích, làm rõ nét vai trò, mục tiêu của Đề án này trong công cuộc đổi mới của toàn ngành.
 

Khẳng định vai trò của CNTT

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng GD&ĐT giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025” (Đề án), vậy ông có thể cho biết vị trí, vai trò của Đề án trong công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện mà ngành đang triển khai theo tinh thần Nghị quyết số 29 của T.Ư Đảng?

- Tôi có thể khẳng định rằng đây là một trong những Đề án trọng điểm của Bộ GD&ĐT nhằm góp phần đổi mới căn bản và toàn diện GD-ĐT với vai trò quan trọng của CNTT, phù hợp xu hướng quốc tế. Đề án nằm trong Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29 của BCHT.Ư Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT; Và Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36 - NQ/TW ngày 1/7/2014 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.

Trong kỷ nguyên hội nhập quốc tế sâu rộng, thế giới đứng trước cơ hội và thách thức của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, việc đổi mới căn bản và toàn diện GD-ĐT cần gắn chặt với nâng cao, tăng cường ứng dụng CNTT là hơn lúc nào hết. Ứng dụng CNTT cần gắn liền với tất cả các lĩnh vực của ngành, từ công tác quản lý, dạy - học cho tới nghiên cứu khoa học.

Ứng dụng CNTT không chỉ còn là một giải pháp hỗ trợ đắc lực, mà còn là một tư tưởng chủ đạo, tăng cơ hội học tập cho tất cả mọi người, học mọi lúc mọi nơi, giảm chi phí, thời gian, công sức của xã hội, góp phần quan trọng xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời. Trong bối cảnh ấy, Đề án đóng một vai trò quan trọng giúp hoạch định chính sách vĩ mô, tạo ra khung cơ sở pháp lý và khung hoạt động để các đơn vị địa phương tổ chức thực hiện đúng định hướng, tránh tình trạng đầu tư triển khai ồ ạt, gây lãng phí và không hiệu quả. Đây là Đề án khung, mang tính định hướng để các bộ, ban, ngành, địa phương chủ động thực hiện.

Để thực hiện Đề án, nguồn kinh phí sẽ được lấy từ đâu, thưa ông?

- Nguyên tắc tài chính của Đề án chủ yếu tận dụng nguồn vốn đầu tư từ xã hội hóa, theo phương thức thuê dịch vụ CNTT, thực hiện chủ trương Chính phủ tại Quyết định số 80/2014/QĐ-TTg ngày 30/12/2014 về việc quy định thí điểm về thuê dịch vụ CNTT trong cơ quan Nhà nước. Bộ GD&ĐT chủ trương xây dựng các hệ thống thông tin tập trung, kho tài nguyên dùng chung, hệ thống bồi dưỡng qua mạng nhằm tránh lãng phí. Các hoạt động này sẽ gắn với nhiệm vụ trọng tâm của Cục CNTT nói riêng và Bộ GD&ĐT nói chung.
 

Góp phần nâng chất trong quản lý GD

Ông có thể cho biết rõ hơn mục tiêu tổng quát của Đề án là gì và những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nào đã được đề ra để hoàn thành những mục tiêu đó?

- Các nhiệm vụ, giải pháp của Đề án được xây dựng dựa trên 3 nhóm hoạt động chính trong ngành giáo dục: Quản lý giáo dục, dạy - học, nghiên cứu khoa học và nâng cao, phát triển năng lực đội ngũ và nguồn nhân lực CNTT.

Đối với giải pháp thúc đẩy ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục, Đề án hướng tới hình thành cơ sở dữ liệu toàn ngành GD&ĐT do Bộ GD&ĐT chủ trì, đáp ứng yêu cầu kết nối, liên thông với các hệ thống thông tin từ Trung ương đến địa phương; triển khai hệ thống quản lý hành chính điện tử và liên thông toàn ngành; quản lý học sinh, giáo viên, quản lý thi, xếp thời khóa biểu, sổ quản lý điện tử. Những giải pháp này nhằm hướng tới mục tiêu thúc đẩy hiện đại hóa thủ tục, hành chính công, tăng cường hiệu quả quản lý thông qua môi trường mạng.

Đối với nhóm giải pháp đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong dạy - học, nghiên cứu khoa học, Đề án chú trọng xây dựng các hệ thống tập huấn, bồi dưỡng, kho học liệu trực tuyến dùng chung toàn ngành, xây dựng hệ thống ngân hàng câu hỏi trực tuyến nhằm tăng tính hiệu quả và nhất quán trong thi, kiểm tra, đánh giá; ứng dụng dạy - học thông minh tại các cơ sở GD&ĐT có điều kiện; hình thành một số cơ sở đào tạo đại học trực tuyến. Với mục tiêu nâng cao tính chủ động của người dạy và người học, đồng thời giúp mọi người học ở khắp nơi trên đất nước tiếp cận được những nguồn thông tin GD&ĐT tốt nhất trong và ngoài nước, Đề án hướng tới đẩy mạnh sự hình thành xã hội học tập, tăng cường, đổi mới giá trị, vị trí của người dạy lẫn người học.

Đối với nhóm giải pháp nâng cao, phát triển năng lực đội ngũ và nguồn nhân lực CNTT, Đề án tập trung triển khai quản lý, bồi dưỡng, tập huấn (đặc biệt về năng lực ứng dụng CNTT) tới các cán bộ quản lý, giáo viên trên môi trường mạng; triển khai các chương trình đào tạo tiên tiến về CNTT tại các trường đại học, lựa chọn các chương trình, giáo trình, khóa học trực tuyến của nước ngoài về CNTT.

Ông có thể cho biết cụ thể hơn về vai trò của các địa phương trong việc thực hiện các giải pháp này?

- Như tôi đã nói ở trên, đề án hình thành khung cơ sở pháp lý và khung hoạt động để các đơn vị địa phương tham khảo và xây dựng kế hoạch cho địa phương mình. Ngày 23/3/2017, Bộ GD&ĐT cũng đã ban hành Quyết định số 1166/BGD&ĐT-CNTT về việc hướng dẫn các địa phương triển khai Quyết định số 117/QĐ-TTg ngày 25/1/2017, xây dựng kế hoạch hoặc chương trình cụ thể triển khai tại địa phương mình. Theo đó, tùy theo điều kiện và chiến lược phát triển của từng tỉnh thành, các địa phương sẽ có những kế hoạch, quyết sách cụ thể và giải pháp trọng tâm tùy theo từng vùng. Với chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, chúng tôi hy vọng Đề án sẽ giúp các địa phương được định hướng đúng đắn với một tầm nhìn chiến lược, từ đó nâng cao hiệu quả đầu tư, tránh lãng phí trong việc thúc đẩy ứng dụng CNTT của các địa phương.

Xin cảm ơn ông!

Bộ GDĐT ban hành Thông tư quy định ứng dụng CNTT trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng

đăng 02:14, 30 thg 9, 2017 bởi Trịnh Xuân Thắng TP   [ đã cập nhật 02:15, 30 thg 9, 2017 ]

Bộ GDĐT ban hành Thông tư số 12/2016/TT-BGDĐT ngày 22/4/2016 Quy định Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng tỏng các cơ sở giáo dục đại học

THÔNG TƯ

Quy định Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng

 

Căn cứ Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục ngày 25 tháng 11 năm 2009;

Căn cứ Luật Giáo dục đại học ngày 18 tháng 06 năm 2012;

Căn cứ Luật Công nghệ thông tin ngày 29 tháng 06 năm 2006;

Căn cứ Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ;

Căn cứ Nghị định số 32/2008/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo;

Căn cứ Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ quy định về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước;

Căn cứ Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng;

Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin,

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư quy định Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng.

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Thông tư này quy định về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng gồm: điều kiện, nội dung đào tạo qua mạng, tổ chức thực hiện; trách nhiệm quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng.

2. Thông tư này áp dụng đối với các cơ sở đào tạo, bao gồm: đại học, học viện, trường đại học (gồm các trường đại học thành viên thuộc đại học quốc gia, đại học vùng).

 

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo qua mạng là việc sử dụng các trang thiết bị điện tử, phần mềm, học liệu điện tử và mạng viễn thông (chủ yếu là mạng Internet) hỗ trợ các hoạt động dạy và học nhằm đổi mới phương pháp dạy – học, nâng cao hiệu quả công tác đào tạo. Một số một mô hình ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo qua mạng phổ biến là:

a) Đào tạo kết hợp (Blended learning) là việc kết hợp phương thức học tập điện tử (e-Learning) với phương thức dạy – học truyền thống (theo đó người dạy và người học cùng có mặt) nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo và chất lượng giáo dục.

b) Học tập điện tử (e-Learning) là hình thức học tập qua đó người học có thể tự học mọi lúc, học mọi nơi thông qua các học liệu điện tử đa phương tiện (lời giảng, lời thuyết minh, âm thanh, hình ảnh, video, đồ họa…). Các hình thức học tập như m-Learning (học thông qua thiết bị di động: điện thoại thông minh, máy tính bảng, màn hình tương tác), u-Learning (học thông qua các phương thức tương tác thực tế ảo diễn ra bất kỳ nơi nào), hay smart-Learning (phương tiện học tập thông minh) đều là các hình thái của học tập điện tử e-Learning.

2. Học liệu điện tử là tập hợp các phương tiện điện tử phục vụ dạy và học, bao gồm: sách giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, bài kiểm tra đánh giá, bản trình chiếu, bảng dữ liệu, các tệp âm thanh, hình ảnh, video, bài giảng điện tử, phần mềm dạy học, thí nghiệm ảo...

3. Hệ thống quản lý học tập (LMS - Learning Management System): là hệ thống phần mềm cho phép tổ chức, quản lý và triển khai các hoạt động đào tạo qua mạng từ lúc nhập học đến khi người học hoàn thành khóa học qua mạng; giúp cơ sở đào tạo theo dõi và quản lý quá trình học tập của người học; tạo ra môi trường dạy và học ảo; giúp giáo viên giao tiếp với người học trong việc giao bài tập, trợ giúp, giải đáp; giúp người học có thể theo dõi được tiến trình học tập, tham gia các nội dung học qua mạng, kết nối với giáo viên và các học viên khác để trao đổi bài.

4. Hệ thống quản lý nội dung học tập (LCMS - Learning Content Management System): là hệ thống phần mềm quản lý kho nội dung học tập qua mạng, cho phép tổ chức lưu trữ và phân phát các nội dung học tập tới người học. Hệ thống quản lý nội dung học tập có sự phối hợp chặt chẽ với hệ thống quản lý học tập (để truyền tải nội dung học tập tới người học) và phần mềm công cụ soạn bài giảng (để tạo ra các nội dung học tập).

Điều 3. Nguyên tắc chung ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng

1. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng phải tuân thủ các quy định tại Thông tư này và các quy chế đào tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành, đảm bảo chất lượng và nâng cao hiệu quả đào tạo.

2. Hệ thống công nghệ thông tin liên quan đào tạo qua mạng phải đảm bảo các quy định pháp luật có liên quan về ứng dụng công nghệ thông trong cơ quan nhà nước và các quy định về an toàn, an ninh thông tin.

Điều 4. Nội dung đào tạo qua mạng

Thủ trưởng cơ sở đào tạo quyết định môn học, học phần trong các chương trình đào tạo của đơn vị được phép thực hiện qua mạng (gọi chung là học phần đào tạo qua mạng) trên cơ sở các quy định của Quy chế đào tạo hiện hành. Nội dung các học phần đào tạo qua mạng có khối lượng, nội dung và cấu trúc kiến thức tương đương với các học phần thuộc chương trình cùng ngành học, cấp học.

Điều 5. Chuẩn đóng gói e-Learning

Các học liệu điện tử, bài giảng điện tử e-Learning, hệ thống LMS, LCMS khuyến khích áp dụng các chuẩn đóng gói phổ biến trên thế giới như: SCORM (Sharable Content Object Reference Model), AICC (Aviation Industry Computer-Based Training Committee).

Điều 6. Sử dụng phần mềm mã nguồn mở

Khuyến khích các cơ sở đào tạo khai thác sử dụng các hệ thống phần mềm mã nguồn mở trong tổ chức đào tạo qua mạng (Phụ lục kèm theo Thông tư này).

 

Chương II

ĐIỀU KIỆN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ, TỔ CHỨC ĐÀO TẠO QUA MẠNG

Điều 7. Điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng

Để tổ chức đào tạo qua mạng, cơ sở đào tạo phải đảm bảo triển khai các yêu cầu sau đây:

1. Cổng thông tin điện tử đào tạo qua mạng.

2. Hệ thống máy chủ và hạ tầng kết nối mạng Internet.

3. Hệ thống quản lý học tập.

4. Hệ thống quản lý nội dung học tập.

5. Kho học liệu số.

6. Đội ngũ nhân lực đảm bảo triển khai hoạt động đào tạo qua mạng gồm:

  1. Đội ngũ cán bộ quản trị kỹ thuật hệ thống công nghệ thông tin;
  2. Đội ngũ cán bộ thiết kế học liệu;
  3. Đội ngũ nhà giáo có thể tự xây dựng bài giảng e-Learning;

d) Đội ngũ cán bộ cố vấn học tập.

7. Quy chế ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng.

Điều 8. Cổng thông tin đào tạo qua mạng

1. Cổng thông tin điện tử đào tạo qua mạng phải tích hợp các hệ thống, chức năng sau đây:

a) Hệ thống quản lý học tập

- Cho phép người học truy cập vào các nội dung học tập qua mạng như đã đăng ký và có thể tự học tập, tự đánh giá, nắm bắt được tiến trình, kết quả học tập của bản thân.

- Cho phép cơ sở đào tạo quản lý điểm, tiến trình học tập của người học và các hoạt động của giảng viên, cố vấn học tập trên môi trường mạng.

- Cung cấp diễn đàn trao đổi và các công cụ hỗ trợ khác để người học có thể trao đổi với giảng viên và các phòng ban của cơ sở đào tạo các vấn đề liên quan đến học qua mạng.

b) Kho học liệu số gồm: giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, bài kiểm tra đánh giá, bản trình chiếu, bảng dữ liệu được số hóa, các tệp âm thanh, hình ảnh, video, bài giảng điện tử, phần mềm dạy học, thí nghiệm ảo,… phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu của người học;

c) Diễn đàn trao đổi và các công cụ hỗ trợ khác để trao đổi về học tập, giải đáp thắc mắc của người học có sự tham gia của giảng viên, trợ giảng;

d) Cung cấp thông tin liên quan đến đào tạo qua mạng gồm:

- Văn bản, quy chế, quy định liên quan đến đào tạo qua mạng;

- Chương trình đào tạo, chương trình môn học, kế hoạch đào tạo qua mạng;

- Thời khoá biểu và hướng dẫn cách học tập, kiểm tra, đánh giá đối với từng nội dung đào tạo qua mạng;

- Đường dẫn truy cập tới các nội dung học tập liên quan.

đ) Hệ thống tài khoản đăng nhập và thư điện tử cấp tới từng người học để trao đổi thông tin liên quan đến toàn bộ quá trình đào tạo qua mạng.

2. Cổng thông tin đào tạo qua mạng phải tuân thủ Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định về việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng.

Điều 9. Hệ thống máy chủ và hạ tầng kết nối mạng Internet

1. Hệ thống máy chủ và hạ tầng kết nối mạng Internet phải có đủ băng thông, năng lực đáp ứng nhu cầu truy cập của người dùng, không để xảy ra hiện tượng nghẽn mạng hay quá tải.

2. Cơ sở đào tạo có thể lựa chọn hình thức đầu tư hoặc thuê dịch vụ hạ tầng công nghệ thông tin trên cơ sở đảm bảo an toàn, an ninh thông tin và hiệu quả đầu tư.

Điều 10. Hệ thống quản lý nội dung học tập

1. Cho phép tổ chức lưu trữ và phân phát các nội dung học tập tới người học qua mạng.

2. Tích hợp công cụ soạn bài giảng dành cho giảng viên.

3. Tùy vào điều kiện thực tiễn, cơ sở đào tạo có thể tích hợp hệ thống quản lý học tập với hệ thống quản lý nội dung học tập sao cho hiệu quả nhất.

Điều 11. Học liệu điện tử

1. Học liệu điện tử phải có nội dung bám sát mục tiêu đào tạo, có tính sư phạm cao, dễ dùng, đáp ứng được nhu cầu tự học của người học.

2. Phương thức cung cấp học liệu điện tử đến người học:

a) Trực tuyến qua mạng Internet;

b) Trực tuyến qua mạng nội bộ;

c) Đĩa CD, DVD, thẻ nhớ USB để người học có thể chủ động học không cần kết nối mạng.

3. Học liệu phục vụ học phần đào tạo qua mạng phải được chuẩn bị đầy đủ trước khi tổ chức khoá học.

Điều 12. Đội ngũ cán bộ triển khai đào tạo qua mạng

1. Nhà giáo tham gia đào tạo qua mạng phải nắm vững kỹ năng dạy học qua mạng; có khả năng quản lý, định hướng, hướng dẫn và giải đáp người học qua phương thức đào tạo qua mạng; sử dụng thành thạo hệ thống quản lý học tập qua mạng và các phương tiện công nghệ thông tin theo yêu cầu của cơ sở đào tạo với vai trò một giảng viên và phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn giảng viên theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Khoản 1 Điều 77 Luật Giáo dục và các quy định có liên quan.

2. Cán bộ kỹ thuật quản trị hệ thống đào tạo qua mạng phải am hiểu các hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin liên quan đến đào tạo qua mạng của cơ sở đào tạo; được hướng dẫn, chuyển giao công nghệ để quản trị, vận hành hệ thống công nghệ thông tin đảm bảo hoạt động ổn định.

3. Cán bộ thiết kế học liệu điện tử phải am hiểu quy trình thiết kế, quy trình sản xuất học liệu; sử dụng thành thạo các công cụ công nghệ thông tin liên quan và phối hợp với giảng viên bộ môn tổ chức thiết kế, xây dựng học liệu điện tử phục vụ đào tạo qua mạng của cơ sở đào tạo.

4. Cán bộ cố vấn học tập phải am hiểu các hoạt động của đào tạo qua mạng, thực hiện hướng dẫn người học biết cách tham gia và sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin trước khi tổ chức các khóa đào tạo qua mạng, theo dõi quản lý quá trình học tập của người học.

 

Điều 13. Quy chế ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng

Thủ trưởng cơ sở đào tạo tổ chức xây dựng và ban hành quy chế ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo trong đó quy định rõ:

1. Quy trình tổ chức, thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng.

2. Quy định quản lý, vận hành các hệ thống công nghệ thông tin: cổng thông tin đào tạo qua mạng, hệ thống quản lý học tập, hệ thống quản lý nội dung học tập.

3. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân khi tham gia quản lý, tổ chức, sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng.

4. Quy trình tổ chức thẩm định học liệu điện tử trước khi đưa vào sử dụng.

5. Các quy định khác.

Chương III

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Điều 14. Tổ chức thực hiện

1. Trách nhiệm của các đơn vị thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo

a) Cục Công nghệ thông tin:

- Chỉ đạo, đôn đốc thực hiện các nội dung của Thông tư này.

- Kiểm tra việc tuân thủ hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng của các cơ sở đào tạo theo quy định của Thông tư này.

b) Các cơ quan, đơn vị có liên quan thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm phối hợp tham gia công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng theo thẩm quyền.

2. Thủ trưởng cơ sở đào tạo

a) Chịu trách nhiệm quản lý và tổ chức triển khai hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng theo các quy định của Thông tư này.

b) Tổ chức thẩm định học liệu điện tử trước khi đưa vào sử dụng. Chịu trách nhiệm về nội dung, chất lượng đào tạo qua mạng do cơ sở đào tạo tổ chức.

c) Tạo điều kiện để giảng viên, cán bộ kỹ thuật, cố vấn học tập và cán bộ thiết kế học liệu điện tử được tham gia các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn đáp ứng yêu cầu của công việc được giao.

d) Tổ chức đánh giá hiệu quả việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng thông qua kênh phản hồi của giảng viên, cán bộ hỗ trợ, người học để có các biện pháp điều chỉnh phù hợp.

đ) Ban hành quy chế về tổ chức, vận hành, cung cấp thông tin cho cổng thông tin đào tạo qua mạng của của cơ sở đào tạo.

Điều 15. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 6 năm 2016.

Điều 16. Chánh Văn phòng, Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin, Thủ trưởng đơn vị có liên quan thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo; Giám đốc các đại học, học viện; Hiệu trưởng các trường đại học có triển khai hoạt động đào tạo qua mạng chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này./.

Lợi ích của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

đăng 02:09, 30 thg 9, 2017 bởi Trịnh Xuân Thắng TP

Mục tiêu của ngành giáo dục là không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng giáo dục ở tất cả các cấp học. Trong đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đang được đẩy mạnh và nhân rộng trong toàn ngành hiện nay. Hãy cùng tìm hiểu xem việc ứng dụng này sẽ mang lại những lợi ích gì nhé.

doi-voi-giao-vien

Đối với giáo viên

Đầu tiên, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học giúp giáo viên nâng cao tính sáng tạo và trở nên linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy của mình. Cụ thể, các thầy cô không chỉ bó buộc trong khối lượng kiến thức hiện có mà còn được tìm hiểu thêm về những chuyên ngành khác như tin học và học hỏi các kỹ năng sử dụng hình ảnh, âm thanh trong việc thiết kế bài giảng. Ngoài ra, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học còn giúp giáo viên có thể chia sẻ bài giảng với đồng nghiệp, cùng nhau thảo luận và nâng cao chất lượng giáo án của mình.

Đối với học sinh

Đối tượng thứ hai được hưởng lợi trực tiếp từ việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đó chính là học sinh. Các em được tiếp cận phương pháp dạy học mới hấp dẫn hơn hẳn phương pháp đọc – chép truyền thống. Ngoài ra, sự tương tác giữa thầy cô và học trò cũng được cải thiện đáng kể, học sinh có nhiều cơ hội được thể hiện quan điểm cũng như chính kiến riêng của mình. Điều này không chỉ giúp các em ngày thêm tự tin mà còn để cho giáo viên hiểu thêm về năng lực, tính cách và mức độ tiếp thu kiến thức của học trò, từ đó có những điều chỉnh phù hợp và khoa học.

Hơn thế nữa, việc được tiếp xúc nhiều với công nghệ thông tin trong lớp học còn mang đến cho các em những kỹ năng tin học cần thiết ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Đây sẽ là nền tảng và sự trợ giúp đắc lực giúp học sinh đa dạng và sáng tạo các buổi thuyết trình trước lớp, đồng thời tăng cường khả năng tìm kiếm thông tin cho bài học của các em.

doi-voi-xa-hoi

Đối với xã hội

Từ lâu, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đã được thực hiện ở rất nhiều nước phát triển trên thế giới. Hiện nay ở Việt Nam, tuy khoảng thời gian ứng dụng công nghệ trong giảng dạy tại các trường học còn khá ngắn, nhưng những lợi ích của điều đó đã được thể hiện rõ nét. Chất lượng giáo viên được nâng cao, các phương pháp giảng dạy được thay đổi theo chiều hướng tích cực. Chúng ta có thể hy vọng vào một ngày không xa, nền giáo dục Việt Nam sẽ theo kịp được sự phát triển của các nước có nền giáo dục hàng đầu trên thế giới.
Rõ ràng, những cải tiến như trên sẽ không chỉ mang lại lợi ích cho người học và người dạy mà còn có ý nghĩa rất trọng với sự phát triển của cả xã hội và đất nước. Là các nhà giáo dục trẻ tuổi trong tương lai, các bạn học sinh sinh viên sư phạm ngay từ bây giờ nên bắt đầu tìm hiểu về cách thức áp dụng công nghệ thông tin trong dạy học để biến những lớp học sau này của mình trở thành những sân chơi thú vị, tươi vui và đầy bổ ích.

Xu thế dạy học hiện đại

đăng 02:06, 30 thg 9, 2017 bởi Trịnh Xuân Thắng TP

    
Trong xu thế toàn cầu hóa, những công trình nghiên cứu về giáo dục được thế giới chia sẽ cho Việt Nam. Từ những kết quả nghiên cứu, nhà giáo dục nước ta có cái nhìn mới hơn, quan điểm thực tế hơn về vị thế của người thầy và học sinh. Đồng thời tư tưởng thời nay theo xu hướng bình đẳng hơn trong các mối quan hệ. Do đó, vị thế của người thầy và học trò được giới hạn cụ thể, rõ ràng và tích cực hơn. Phương pháp dạy học hướng đến cá nhân hóa học sinh nhiều hơn, tạo điều kiện cho học sinh phát huy tối đa nội lực.

1. Giáo dục dân chủ (Democratic education)

    Vào thời kỳ khai sáng, năm 1693, John Loke đã xuất bản quyển Những suy nghĩ về giáo dục (Some Thoughts Concerning Education). Trong khi bàn về cách dạy trẻ em, ông cho rằng giáo viên không nên áp đặt và buộc các em học vì điều đó chỉ làm cho các em trở nên chán nản và có ác cảm. John Loke viết: "Trẻ em không thể học được gì nếu như những điều (giáo viên dạy cho các em) gây ra gánh nặng hoặc áp đặt các em. Những điều đó chỉ làm cho các em khó chịu hoặc có ác cảm, mặc dù trước đó các em có quan tâm hay không. Ra lệnh bằng đòn roi hằng ngày, liệu làm cho các em có suy nghĩ gì về điều đó. Buộc các em làm nhiệm vụ suốt buổi sáng và buổi chiều, liệu làm các em có chán nản không?" 

    Vào năm 1762, Jean-Jacques Rousseau xuất bản Émile. Trong tác phẩm Émile, Cậu bé Émile (nhân vật tưởng tượng của tác giả) chỉ học những gì mà cậu bé cho là hữu dụng. Cậu chỉ thích thú những bài học và học để thỏa mãn phán xét và kinh nghiệm của chính mình. Qua tác phẩm này, Rouseau thể hiện quan điểm rằng chúng ta không nên thay thế những kinh nghiệm cá nhân bằng những quyển sách bởi vì điều này không dạy chúng ta suy luận; nó chỉ dạy chúng ta sử dụng suy luận của người khác và tin vào đó như một ý tưởng tuyệt vời, mà không biết điều gì khác cả. Rousseau viết: "Giáo viên không nên áp đặt khái niệm vào học sinh, mà hãy để các em khám phá nó. Thay vì bắt Émile học môn khoa học, hãy để em tự tìm tòi những điều mới trong đó." John Dewey (1859 – 1952), nhà triết học, tâm lý học, và cải tổ giáo dục của Mỹ. Ông nhấn mạnh rằng giáo dục không chỉ cung cấp kiến thức cho các em, mà còn là nơi để học cách sống. Mục đích của giáo dục không chỉ quay vòng với những gì có sẵn, mà còn xa hơn nữa, giúp các em nhận ra được tiềm năng và khả năng của mình. John Dewey viết: "Chuẩn bị có các em tương lai nghĩa là cho các em quyền yêu cầu, cũng có nghĩa là huấn luyện các em sẵn sàng sử dụng đầy đủ khả năng của mình."  Ông viết: "Chúng ta phải ở vị trí của các em, xuất phát từ các em; chứ không phải là vấn đề chính xác địch chất lượng và số lượng." 

    Từ những tư tưởng đó, thế giới bắt đầu quan tâm đến giáo dục dân chủ. Người ta bắt đầu quan tâm đến quyền học sinh, đặc biệt là quyền học tập độc lập mà không bị áp đặt bởi những khái niệm của người thầy hoặc sách vở, các em tự khám phá và đưa khái niệm riêng, để phát huy tinh thần tự lực, sáng tạo và trở thành công dân dân chủ thật sự. Hiện nay trên thế giới có hơn 400 trường dân chủ. Đại đa số ở các nước phương Tây. Riêng ở châu Á, Ấn độ có 4 trường, Indonesia có 1, Nhật bản có 9, Hàn Quốc có 6, Thái Lan có 2, Nepal có 1. Tất cả những ngôi trường áp dụng tiêu chí của giáo dục dân chủ. Giáo dục dân chủ là quá trình đào tạo học sinh có đầy đủ tất cả các quyền và trách nhiệm của công dân dân chủ. Cụ thể là các em được thực hành, hơn là chỉ đọc, về những nguyên tắc tự do ngôn luận, tự do họp hội, và tự do chọn hoạt động cho chính mình; các em được bầu chọn những luật lệ mà trực tiếp ảnh hưởng đến mình và tuân thủ, tôn trọng luật lệ đó.

    Thông qua xu thế dân chủ trong giáo dục, vị thế của học sinh được nâng lên, không bị chi phối bởi vị thế người thầy. Học sinh có mọi sự quyết định trong hoạt động học tập của mình, học sinh đưa ra nguyên tắc và cùng nhau thực hiện nguyên tắc đó. Vai trò của người thầy hầu như không hiện hữu. Chính vì thế, có nhiều người khác phê phán mô hình giáo dục dân chủ. Họ cho rằng kiến thức của các em sẽ bị lệch lạc trong biển kiến thức của thế giới vì các em không được định hướng bởi người thầy là người đã có nhiều kinh nghiệm trong học tập. Các em có đầy đủ quyền như thế liệu rằng các em sử dụng quyền đó vào nhiệm vụ học tập hoặc nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu bản năng riêng của từng em, chơi nhiều hơn học. Nhưng dù sao đi nữa, giáo dục dân chủ cũng có mặc tích cực của nó, nâng cao vị thế của học sinh, rèn luyện khả năng sáng tạo, chuẩn bị hoạt động độc lập trong cuộc sống sau này của các em. Vì vậy, để dung hòa hơn, vị thế của thầy và học sinh cần được cân bằng trong quá trình học tập.

2. Phi trường học (unschooling)

    Phi trường học là mô hình học tập không bị ràng buộc trong khuôn khổ những quy định bởi hệ thống trường lớp, không bị tác động bởi các phương tiện học tập. Học sinh học và khám phá từ những kinh nghiệm cuộc sống bên ngoài tự nhiên như chơi, trách nhiệm gia đình, mối quan tâm cá nhân, trí tò mò, kinh nghiệm thực tập và làm việc, du lịch, sách, gia đình, thầy và tương tác xã hội khác. Ý tưởng này được hình thành vào những năm 70 và nhà giáo dục John Holt được xem là cha đẻ học thuyết phi trường học (unschooling). Ông cho rằng tất cả các phương tiện dạy học trong trường, và hệ thống quy trình học tập của nó làm cho các em trở nên thụ động như đang bị lập trình sẵn, các em bị lôi kéo hành động theo khuôn mẫu đã được quy định trước. Các em không có cơ hội và được tự do tương tác với môi trường tự nhiên. Điều đó làm cho các em trở vô thức với tự nhiên. Trong khi, cuộc sống thực của các em trong tương lai chính là tự nhiên.

    Mặc dù, tư tưởng này bị đánh giá quay ngược dòng lịch sử trở về thời kỳ dạy học riêng lẽ trong quá khứ, vào thời kỳ mà giáo dục chưa được phát triển, học sinh chỉ học từ người thầy gia đình mà ở Việt Nam gọi là thầy đồ. Tuy nhiên, tư tưởng này cũng phần nào giải thoát vị thế bị áp đặt của học sinh. Nâng cao vai trò học sinh trong hoạt động học tập. Học sinh được tiếp cận tri thức một cách trực tiếp thông qua thực tế mà không bị điều khiển bởi người thầy, phương tiện dạy học và nội quy của nhà trường.

3. Dạy học tương tác

    Một phương pháp dạy học mà các nhà giáo dục ngày nay thường hay bàn đến nhiều đó là dạy học tương tác. Dạy học tương tác là phương pháp tác động qua lại giữa người thầy, học sinh, phương tiện dạy học và môi trường học tập nhằm thực hiện quá trình dạy và học. Học sinh không chỉ tiếp thu một chiều, mà còn tham gia chia sẽ ý kiến của mình với thầy và các bạn khác trong lớp; hơn thế nữa, học còn chủ động tác động vào phương tiện dạy học để thỏa mãn nhu cầu học hỏi của mình. Như vậy, ý tưởng dạy học theo kiểu này đã làm thay đổi phương pháp dạy học rất nhiều theo hướng tích cực. Khác hẳn với phương pháp đọc chép và thuyết trình một chiều từ thầy đến trò được thấy nhiều trong các trường phổ thông thậm chí trong đại học, phương pháp được tiến hành dưới dạng thảo luận. Học sinh có cơ hội phát biểu chính kiến riêng, và so sánh ý kiến của mình với thầy và các bạn khác trong lớp, từ đó học sinh có thể chọn lựa được ý kiến tốt cho hành trang tri thức của mình. Đồng thời các phương tiện và môi trường học tập cũng được thiết kế và sử dụng theo hướng tương tác với học sinh. Không những người thầy chỉ sử dụng phương tiện dạy học truyền đạt kiến thức mà học sinh cũng có thể điều khiển phương tiện dạy học truy tìm kiến thức cho riêng mình, kể cả khi thiếu vắng vai trò của người thầy.

    Có thể nói, dạy học tương tác là phương pháp cách mạng. Nó được hưởng ứng rất nhiều bởi các nhà giáo dục. Nó không thiên vị đối tượng nào trong hoạt động dạy và học, chủ yếu là người thầy và học sinh. Nó luôn giữ trạng thái cần bằng giữa các vị thế của đối tượng với nhau. Nó không phủ nhận vai trò của người thầy, mà còn đảm bảo vị thế và quyền lợi của học sinh.

4. Ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục

    Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin này, kiến thức được sinh ra và nhanh chóng phát tán rộng rãi khắp nơi trên thế giới dưới nhiều hình thức, đặt biệt là mạng truyển thông. Người ta đã sử dụng công nghệ thông tin để xây dựng nhiều mô hình dạy học mà trong đó học sinh có thể tương tác với chúng theo từng trình độ khác nhau, mà không cần có sự hiện diện của người thầy. Học sinh có thể lưu trữ chúng trong nhiều loại thiết bị khác nhau như Iphone, Ipad, laptop, máy vi tính đển bàn v.v…; sau đó, học sinh mở ra bất kỳ nơi nào, lúc nào khi các em muốn thực hiện hoạt động học tập của mình. Hơn thế nữa, những mô hình dạy học có thể lưu trữ trên máy chủ có kết nối internet, học sinh có thể chạy những chương trình này khi cần mà không phải tốn nhiều dung lượng trong thiết bị cá nhân nào đó. Công nghệ thông tin không những cung cấp tài liệu và chương trình học tương tác, mà còn kết nối mọi người lại với nhau thông qua internet. Chỉ cần ngồi ở nhà hoặc trong không gian nào đó có kết nối internet, người ta có thể nói chuyện, trao đổi và học tập với nhau thông qua internet.

    Với sự phát triển thần kỳ, và sự thỏa mãn gần như hoàn hảo mà công nghệ thông tin mang lại cho giáo dục, người ta lại đặt ra câu hỏi: giáo dục thật sự có cần thiết trường học với cơ sở vật, trang thiết bị và con người tốn kém nữa không trong khi mọi thứ của hoạt động học tập đều có thể thực hiện nhờ vào công nghệ thông tin? Khái niệm phi trường học theo hướng khác, với công nghệ thông tin, lại có dịp trỗi dậy trong thời đại công nghệ thông tin này. Tuy nhiên, người ta chỉ nhìn vào vấn đề, chứ không nhìn vào bản chất của vấn đề. Vấn đề ở chổ công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong giáo dục. Nhưng bản chất vấn đề, ai cung cấp kiến cho công nghệ thông tin? Ai xây dựng mô hình để cho nó mô phỏng theo? Các thuộc tính xã hội sẽ được hình thành như thế nào trong mỗi học sinh? Chỉ có thể nhà trường mới có thể đãm nhận và thực hiện tốt vai trò này. Công nghệ thông tin thực chất ra chỉ là công cụ hoặc phương tiện dạy học, cần có người thầy nảy sinh ra ý tưởng, hình thành và điều khiển nó. Người thầy ở đây được hiểu theo nghĩa rộng hơn, không chỉ đứng lớp, mà thực hiện những nhiệm vụ có liên quan đến giáo dục khác, như xây dựng chương trình để thực hiện trong quá trình dạy học. Công nghệ thông tin luôn ở trạng thái tĩnh, cần con người tác động, nó chỉ có thể giải thích những kiến thức đã được lập trình sẵn cho quá trình dạy học; chứ không thể đáp ứng được những kiến thức phát sinh cần được dẫn giải trong khi thực hiện hoạt động học tập. Trái lại, người thầy luôn ở trạng thái động, không những có đầy đủ những kiến thức dành sẵn cho quá trình dạy học mà còn sẵn sàng đáp ứng mọi thông tin khi học sinh có nhu cầu. Yếu tố quan trọng nữa đó là năng lực xã hội. Năng lực xã hội bao gồm khả năng ứng xử và hành vi đạo đức của con người. Năng lực xã hội chỉ được hình thành trong môi trường tương tác giữa người với người. Khả năng ứng xử và hành vi đạo đức chỉ được dần dần cải thiện thông qua sự tác động đến người khác và bị tác động bởi người khác trong môi trường xã hội. Dĩ nhiên công nghệ thông tin không thể tạo được môi trường cho học sinh thực hiện điều đó. Chỉ có trường học là môi trường tốt nhất để cho học sinh rèn luyện và hình thành năng lực xã hội dưới sử quản lý của người thầy. Một lần nữa, trong thời đại công nghệ thông tin, vai trò của người vẫn được khẳng định.

5. Dạy học lấy học sinh làm trung tâm

    Chắc có lẻ, một xu thế chung nhất cho tất cả các xu thế trên đó là dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Toàn bộ quá trình dạy học điều hướng vào nhu cầu, khả năng và lợi ích của học sinh. Học sinh được tiếp thu kiến thức và rèn luyện kỹ năng dựa trên khả năng sẵn có và nhu cầu riêng của từng em. Học sinh được tự do chọn lựa phương pháp học tập, độc lập truy tìm kiến thức để giải quyết các vấn đề học tập. Học sinh tự lực, tự giác, tự chịu trách nhiệm mọi hoạt động học tập của mình. Nhờ đó, học sinh cảm thấy tự hào kiến thức chính mình đạt được, và khả năng của các em được tôn trọng trong môi trường học tập. Như thế, các em có động lực phát huy tinh thần học hỏi và khả năng sáng tạo. Người thầy chỉ đóng vai trò đặt ra tình huống có vấn đề và hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề đó. Như vậy, kiến thức của các em không bị phụ thuộc vào người thầy, và cũng không bị chi phối bởi người thầy.

    Trước những xu thế nâng cao vị thế của học sinh nhằm đào tạo ra thế hệ con người tự lực, tự giác, có trách nhiệm, có năng lực chuyên môn và xã hội, có tinh thần sáng tạo để đồng hành vào thế giới văn minh. Người ta đã ngộ ra nhiều vấn đề trong giáo dục cần được thay đổi. Trong đó, những giá trị của “tôn sư trọng đạo” và trật tự xã hội cũng cần phải được định nghĩa lại để phù hợp cho thế giới tiến bộ: dân chủ, công bằng và văn minh. Mối quan hệ giữa thầy và trò cần được bình đẳng. Thầy và trò cần có trách nhiệm với nhau. Vị thế thầy và trò luôn hướng đến trạng thái cân bằng. Tuy điều đó chưa được thực hiện triệt để trong hoạt động dạy và học, vì suy nghĩ người Việt của chúng ta chưa thoát ra khỏi vòng kiềm hãm của tư tưởng Khổng giáo và Phật giáo; nhưng nền giáo dục đang chuyển mình và hướng đến những tiêu chí lấy học sinh làm trung tâm.

ThS. Lư Thành Long 

 TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.  Luận Ngữ của Khổng Tử, Phùng Hoài Ngọc biên dịch – chủ giải, Đại học An Giang, 2011.
2.  Kinh Lễ của Khổng Tử, Nguyễn Tôn Nhan biên dịch và chú giải, 1999.
3. Tìm Hiểu Về Giới Luật (Sìla) Trong Phật Giáo của Thích Quang Thạnh, trang web http://www.buddhismtoday.com/viet/ddtamly/018-sila.htm.
4.  Demoratic Education, trang http://en.wikipedia.org/wiki/ Democratic _education.
5.  My pedagogic creed (Tín Ngưỡng của Tôi) của Dewey, 1897.
6.  Dewey, 1902.
7.  Unschooling, trên trang http://en.wikipedia.org/wiki/Unschooling 

1-10 of 10